What Buddhism and Psychotherapy Are Learning From Each Other ?
By
David Loy
Zen Teacher
“One does not become enlightened by imagining figures of light, but by making the darkness conscious.” --Carl Jung
“Một người không trở thành giác
ngộ bằng tưởng tượng thấy các hình ảnh ánh sáng nhưng do làm cho sự mù tối trở nên sáng tỏ.” – Carl Jung
=====================
Phật
Giáo và Khoa Trị Liệu Tâm Lý học của nhau những gì?
Bất cứ khi nào Phật giáo từng lan rộng đến nền văn hóa khác, nó
đã tương tác với
các hệ thống tín ngưỡng của nền văn hóa đó, dẫn đến sự phát triển của một cái
gì đó mới mẻ. Ngày nay, trong thế giới Tây phương điểm xảy ra sự tương tác không phải là Do Thái-Kitô giáo nhưng là khoa tâm lý học, một cuộc đối thoại đã từng dẫn đến các cách sáng tạo
tâm lý trị liệu và gần đây nhất, vào sự thành công phi thường của phong trào thực thi chánh niệm.
Hiện nay đã có một
nền văn học lớn và phát triển nhanh chóng về mối quan hệ giữa Phật giáo và khoa
tâm lý trị liệu . Nhiều nhà trị liệu tâm lý giỏi của Tây phương đã trở thành
Phật tử hành
đạo, và kết hợp các phương pháp tu hành vào cách chữa bệnh tâm lý . Một số trong số họ cũng đã được đặc trách phận sự làm giảng sư. Phật giáo đang cung cấp khía cạnh mới về bản chất
của tâm lý lành mạnh, và các phương thức thực hành mới đã giúp cho sự thăng tiến của Đạo
Phật.
Ở một khía cạnh
khác, hơn một thế hệ thực hành Phật giáo của các học viên Tây phương
đã từng cho thấy hiển nhiên là thiền định đôi khi không đủ để giải quyết vấn đề tâm lý sâu xa và những mối quan hệ khó khăn. Ngay trong lịch sử tuy ngắn truyền thống trị liệu tâm lý đã đạt được cái nhìn sâu sắc đáng kể vào các cơ chế tự động của sự chối
bỏ, biện
luận, dồn nén, trông
mong, vân vân, điều có thể giúp chúng ta hiểu sự
thực hành Phật gáo đôi khi đi sai như thế nào - ví dụ, sự phức tạp của chuyển hoá/hay phản hoá ngược laị (transference
and countertransference) có thể bóp méo mối quan hệ giữa trị liệu viên và thân
chủ (hoặc giữa thầy và đệ tử).
Sự chuyển hoá, như ban đầu được xác định bởi các nhà trị liệu bệnh tâm lý, là xu hướng vô thức của một bệnh nhân khi họ mang những cảm xúc
và các mẫu hành vi mà
họ cảm thấy đối với một người nào đó (ví dụ,một
phụ huynh) và chuyển chúng
sang cho một người lạ khác (chẳng hạn như một trị
liệuviên hoặc một
thầy –guru.) Sự phản
hoá ngược lại xảy ra khi người trị liệu (hoặc vị
thầy) cũng bị dính líu trong sự chuyển hoá đó. Nếu một vị thầy tâm linh được bao quanh bởi một nhóm người mộ
đạo mà họ coi vị đó
như là một vị thánh, đó là một sự giáo hoá. Khi vị thầy bắt đầu
hoà ý với họ, đó
là sự phản hoá - một ảo tưởng không phù hợp với sự hiểu biết thông thường của
chúng ta về sự thức tỉnh, nhưng không phải là hiếm.
Giáo lý Phật học truyền thống không làm nổi bật các cơ chế tự động như vậy
bởi vì trọng tâm được đặt
để khác nhau. Phật giáo nhấn mạnh sự không vướng mắc vào tính
cách“trống rỗng” – empty - của hiện tượng tâm lý , trong khi khoa tâm lý học nhấn mạnh sự tìm hiểu những hiện
tượng gây ảnh hưởng đến mối quan hệ của chúng ta, bao gồm cả mối
quan hệ giữachính
người đó. Việc phát hiện quan trọng là hai cách thức giải quyết này có thể bổ sung cho nhau vì chúngchia sẻ cùng một mối quan tâm cơ bản: giảm thiểu
sự đau khổ của chúng ta.
Thách thức chính của mỗi bên trong cuộc đối thoại này là chống
lại khuynh hướng bên này
nuốt chửng bên kia. Thật dễ dàng cho một bác sĩ
chuyên khoa loại bỏ sự
giác ngộ bên Phật giáo mà họ cho là một ảo tưởng thoát
ly trần thế, và cũng dễ dàng cho Phật tử loại bỏ sự chú trọng tập trung vào các vấn đề tâm lý như ám ảnh bởi với các sự
kiện đã xảy ra trong quá khứ hơn là trở về với bản chất tự nhiên và hoàn toàn sống trong hiện tại.
Sự thách
thức này bị trầm trọng bởi thực tế là khoảng cách văn hóa và lịch sử giữa hai bên là quá lớn, nó có khuynh hướng khích động Truyền thống Âu Tây- Eurocentrism ("xuhướng trí thức uyên bác của đế quốc phương Tây cho rằng các tiêu chuẩn và giá trị của Âu Châu và Bắc Mỹ là trung tâm của đạo đức và trí thức hoàn vũ,theo
Jeffrey Rubin) hoặc đểlý tưởng hóa phươngĐông ôn hòa -Orientocentrism
("sự lý tưởng hóa và đặc quyền của tư tưởng châu Á – tôn lên làm linh thiêng -- và sự bỏ sót nếu không nói
là bỏ qua các giá trị của quan điểm tâm lý phương Tây
"). Nếu chúng ta thành thật với chính mình, hầu hết chúng ta có sự thiên
vị một bên này
hay bên kia.
Không có sự dễ dàng đưa tới một đường lối giữa hai su hướng mà đó lại là một
thử thách: hai bên họp lại cùng nhau có thể giúp
chúng ta thoát
khỏi tìm kiếm những loại an toàn bằng cách xác
định với một tính cách
suy nghĩ đặc biệt, chẳng hạn những cách phân
tâm học của Freud và những nghịch biện của Chan/Zen. Rubin, một nhà tâm lý Phật
giáo, mô tả trởngại này trong cuốn sách của ông “Khoa Tâm lý trị liệu
và Phật giáo”:
Phù hợp với đặc tính của
chủng tộc, bao gồm giảm
thiểu sựtự dễ bị tổn thương, cho phép học viên củng cố tình trạng bấp
bênh của họ. Chấp nhận các lý thuyết của một trường phái mà
họ liên quan đến cung cấp cho họ một cảm giác thoải mái vừa về phương diện
trí thức lẫn cảmxúc .... Nó cũng cho người ta một cá tính ổn định và ý thức hoà đồng. Nhưng nó cổvõ những ý tưởng không thực tế và nhữngước
tính của sự tự
hiểu biết, tự chủ lấy
mình, và các
phục vụ vị tha, cũng như một thái độ sợ đương đầu với sự cảm xúc và tổn thương. Do đó các trị
liệu viên tâm lý có thể
gặp khó khăn rất lớn để thừa nhận hoặc đối phó với sự yếu thế của chính
họ.
Để cho học viên trị liệu tâm lý thay
thế các Phật tử hành đạo và lề lối này cung cấp khá nhiều khía
cạnh sâu sắc nơi Phật tử có thể gặp nhiều bế tắc.
Trụ nơi“Trung Đạo” – cái mà có thể được gọi là nơi không có vị trí cố định - nó không có nghĩa là đả phá cả hai quan điểm nhưng có khả năng đánh giá tốt cho cả hai. Mỗi quan
điểm có thể hữu ích, tuỳ theo tình huống, nhưng không
độc quyền về Chân
Lý. Irvin Yalom làm nêu rõ điểm này trong cuốn sách của ông về “ Y khoa tâm lý hiện sinh”-Existential Psychotherapy:
Người trị liệu tâm lý có thể cung cấp cho bệnh nhân bất kỳ con
số giải thích để làm sáng tỏ các vấn đề tương tự .... Không, tuy họ xác
định ngược lại, có giải thích nào nắm đặc quyền về chân lý.Dầu
sao, tất cả chúng đều dựa trên cấu trúc tưởng tượng “giả như" ....
Tất cả chỉ là hư cấu, cấu trúc tâm lý được tạo ra cho tiện hoá ngữnghĩa,
và họ biện minh cho sự hiện hữu của họ chỉ là do nhờ sự trinh bạch trong
giải thích của họ. [Nhấn mạnh của Yalom].
Chúng ta cần các hư cấu đó bởi vì tâm trí của chúng ta không hoạt động
trong khoảng rỗng không (vacuum) nhưng được kích động bởi các cấu
trúc như vậy.
Đức Phật cũng
đã cẩn thận không thiết lập giáo lý của Ngài là chân lý duy nhất.
Trong Kinh Canki, Ông nói, "Không thích hợp cho một người đàn ông khôn
ngoan ... để đi đến kết luận ‘đây mới là chân lý, và mọi thứ khác là
sai." Ông đã so sánh những giáo pháp của Ông như một chiếc thuyền chúng ta có thể sử dụng
để chèo lái qua khỏi con sông khổ đau đến "bờ
bên kia" của sự giác ngộ,nhưng không phải sau đó lại tiếp tục cư mang nó trên vai. Nếu tất cả các giải thích tâm lý trị liệu là cấu trúc tưởng tượng"giả như" biện minh bởi phương thức giúp chúng ta thay đổi, và nếu
giáo lý Phật giáo là lộ trình cho chúng ta thấy con đường để đi,
đó là cánh cửa mở cho một cuộc giao lưu văn hoá tìm tòi sâu sắc về cách thức cho chúng
ta làm sao nắm hiểu
và chuyển hoá bản thân.
Cánh cửa đó có thể mở,nhưng nó cũng quan trọng không để giảm thiểu những
thách thức liên quan đến một cuộc đối thoại giữa hai phương pháp rất
khác biệt. Phương pháp trị liệu tâm lý truyền thống để tâm đến sự làm lành lại bản
thân, trong khi mô hình hạnh phúc bên Phật giáo nhấn mạnh vào sự giải thoát cái ảo tưởng về bản thân và phát triển những gì mà Rubin cho là “ Không có cái ta là trung điểm
chủ quan”. "non-self-centric subjectivity.” Cả hai truyền thống tự nó không cung cấp
đầy đủ hìnhảnh chúng ta là ai, vấn đề của chúng ta là gì, và làm
thế nào để chúng ta chuyển hoá.
Tin khả quan là
lĩnh vực đang phát triển của tâm lý Phật giáo nhận thức được sự khác biệt và đã
bắt đầu khám phá những mối quan hệ giữa hai truyền thống. Chúng ta có thể hy vọng về tương lai của cuộc đối thoại này bởi
vì nó được neo theo kinh nghiệm thực dụng để giảm dukka hay “khổ đau” của bệnh nhân tâm lý và của các Phật tử hành đạo.
Tuy truyền thống thần thánh hoá Phật
giáo có từ lâu trước thời đại tân tiến, câu hỏi của nhà trị liệu
bệnh tâm lý là dầu Phật giáo thần hoá tiến trình mở mang nhưng cuối cùng là họ có thấu hiểu mục đích chuyển hoáthế giới này qua khỏi khổ
đau và ào tưởng hay không. Với nguồn gốc thế tục và
mục tiêu thực dụng của khoa tâm lý trị liệu, câu hỏi từ quan điểm củaPhật tử là liệu những phương pháp điều trị như vậy vẫn còn kiềm chế sự hiểu
biết rất ít về tiềm năng con người của chúng ta, bỏ qua những cách thức có thể chuyển hoá các giả định thông thường về ý nghĩa thế nào mới là con người.
Sự căng thẳng giữa hai câu hỏi là cái làm cho các cuộc đàm thoại giữa Phật giáo và khoa tâm lý trị liệu
rất hấp dẫn - và quan trọng.
================================
Kim Morris lược dịch từ nguồn trích trong Huffington Post :
http://www.huffingtonpost.com/david-loy/what-buddhism-and-psychot_b_5549963.html